VietinBank quý 2/2026: Lợi nhuận trước dự phòng cao nhất ngành nhưng bộ đệm dự phòng đang thu hẹp
VietinBank đạt lợi nhuận trước dự phòng 20.029 tỷ đồng trong quý 2/2026 — cao nhất toàn ngành và cao hơn Vietcombank 11,8%. Tuy nhiên lợi nhuận trước thuế lại thấp hơn Vietcombank 15,4%, toàn bộ chênh lệch nằm ở mức trích lập.
| Chỉ tiêu | Q2/2026 | svck | TTM |
|---|---|---|---|
| Thu nhập lãi thuần | 20.730 tỷ | +30,9% | 75.251 tỷ |
| Lãi thuần dịch vụ | 2.269 tỷ | +58% | 7.400 tỷ |
| LN trước dự phòng | 20.029 tỷ | — | Cao nhất ngành |
| Chi phí dự phòng | 5.300 tỷ | +78,3% | 17.298 tỷ |
| Lợi nhuận trước thuế | 14.729 tỷ | +21,8% | — |
| Lợi nhuận sau thuế | 11.783 tỷ | — | ~40.350 tỷ |
Năng lực tạo lợi nhuận cao nhất ngành
Đây là nội dung quan trọng nhất khi đánh giá VietinBank. Xét lợi nhuận trước thuế, ngân hàng thấp hơn Vietcombank trong quý 2 với 14.729 tỷ đồng so với 17.420 tỷ đồng. Nhưng xét lợi nhuận trước dự phòng, VietinBank đạt 20.029 tỷ đồng, cao nhất ngành và cao hơn Vietcombank 11,8%. Toàn bộ chênh lệch nằm ở mức trích lập: VietinBank trích 5.300 tỷ đồng trong khi Vietcombank trích 503 tỷ đồng.
Tính lũy kế 6 tháng, lợi nhuận trước dự phòng của VietinBank đạt khoảng 38.869 tỷ đồng so với 32.218 tỷ đồng của Vietcombank, cao hơn 20,6%. Nếu loại trừ thêm khoản bất thường 3.000 tỷ đồng của Vietcombank, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của hai ngân hàng gần như tương đương ở mức 25.868 tỷ đồng và khoảng 26.220 tỷ đồng.
Có thể tóm tắt: VietinBank tạo ra lợi nhuận cao hơn Vietcombank đáng kể nhưng công bố mức lợi nhuận tương đương, do chủ động trích lập cao gấp hơn bốn lần. Đây là dấu hiệu quản trị thận trọng, đồng thời là cơ sở để HSC dự phóng VietinBank vượt Vietcombank từ năm 2026 với 41,8 nghìn tỷ đồng so với 39,6 nghìn tỷ đồng.
Điểm cần theo dõi: cơ cấu nợ dịch chuyển và bộ đệm dự phòng thu hẹp
Quý 1/2026 ghi nhận các chỉ tiêu tích cực trên bề mặt. Tỷ lệ nợ xấu giảm từ 1,10% xuống 1,02%, bao phủ nợ xấu tăng từ 159% lên 167%, nợ nhóm 5 giảm 40% so với quý trước và chỉ còn chiếm 58% tổng nợ xấu thay vì 91% cuối năm 2025.
Tuy nhiên khi tính ngược từ ba dữ kiện trên, kết quả cho thấy nợ nhóm 3 và nhóm 4 đã tăng khoảng 4,4 lần chỉ trong một quý, từ khoảng 9% lên 42% cơ cấu nợ xấu. Nợ xấu cũ ở nhóm cuối được xử lý, trong khi nợ xấu mới tập trung ở các nhóm phía trên và chưa chuyển xuống nhóm 5.
Cần phân biệt rõ: nợ nhóm 5 không biến mất mà được đưa ra ngoại bảng. Khi một khoản nợ nhóm 5 đã trích lập đủ 100%, ngân hàng sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro, khoản vay chuyển sang theo dõi ngoại bảng và ngân hàng vẫn tiếp tục thu hồi. VietinBank thu hồi được 2,2 nghìn tỷ đồng theo cách này trong quý 1.
Sang quý 2, xu hướng đảo chiều. Tổng nợ xấu tại 30/6/2026 đạt 25.079 tỷ đồng, tăng 14% từ đầu năm và đưa tỷ lệ từ 1,1% lên 1,2%, trong khi dư nợ chỉ tăng 5%. Đáng chú ý hơn, bộ đệm dự phòng giảm xuống 1,61% trên dư nợ gộp. Quý 1 mang tính chất xử lý nợ tồn, quý 2 chuyển sang tích tụ.
Một điểm chưa được giải thích: việc cơ cấu nợ dịch chuyển từ nhóm 5 sang nhóm 3 và 4 lẽ ra làm giảm yêu cầu trích lập, do nhóm 3 trích 20% và nhóm 4 trích 50% thay vì 100%. Tuy nhiên chi phí dự phòng quý 2 vẫn tăng 78,3% so với cùng kỳ.
Áp lực về nguồn vốn
Ba chỉ tiêu cần theo dõi về cơ cấu nguồn vốn: LDR ở mức 101,24% và tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước, tỷ trọng vốn thị trường 24,56%, chi phí vốn 3,29% và tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Mức chi phí vốn này cao hơn con số 3,13% tính trên nền trượt 12 tháng, cho thấy áp lực tập trung vào kỳ gần nhất.
Về mức trích lập trong tương quan ngành, chi phí rủi ro tín dụng trên nền trượt 12 tháng đạt 0,65% tài sản sinh lãi bình quân, xếp hạng 16 trong 27 ngân hàng và thấp hơn trung vị ngành 0,70%. Tuy nhiên do biên lãi thuần chỉ đạt 2,69%, mức trích này chiếm 26,5% lợi nhuận vận hành trong quý 2 và 40,9% trong quý 1. Với biên lãi mỏng, mỗi điểm tăng của chi phí rủi ro ảnh hưởng tới lợi nhuận nhiều hơn so với ngân hàng có NIM 4–5%.
Định giá và quan điểm HSC
HSC duy trì khuyến nghị Mua vào với giá mục tiêu 48.300 đồng. Dự phóng 2026: lợi nhuận thuần 41,8 nghìn tỷ đồng, ROAE 21,4% — cao nhất nhóm ngân hàng thương mại nhà nước, nợ xấu 1,10%, bao phủ nợ xấu 155%. Theo tham chiếu trong báo cáo BIDV ngày 04/8, VietinBank giao dịch ở P/B trượt dự phóng một năm 0,98 lần, thấp hơn BIDV 19% và Vietcombank 36%.
Cần lưu ý bản cập nhật gần nhất của HSC là Flashnote ngày 04/5/2026, chưa có bản sau kết quả quý 2. Hai giả định hiện đang lệch so với thực tế: nợ xấu được giả định giữ ở 1,10% cho cả 2026 và 2027 trong khi quý 2 đã lên 1,2%; và kỳ vọng áp lực trích lập giảm dựa trên việc nợ nhóm 5 thu hẹp, nhưng chi phí dự phòng quý 2 vẫn tăng 78,3%.
Điểm mạnh: lợi nhuận trước dự phòng cao nhất ngành đạt 20.029 tỷ đồng; ROAE 21,4% dự phóng 2026 cao nhất nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; định giá thấp nhất nhóm với P/B 0,98 lần; bao phủ nợ xấu 167% xếp thứ hai toàn ngành; thu nhập dịch vụ tăng 58%; tỷ trọng cho vay bất động sản khoảng 5%, thuộc nhóm thấp nhất hệ thống.
Điểm hạn chế: nợ nhóm 3 và 4 tăng khoảng 4,4 lần trong quý 1, tổng nợ xấu tăng 14% từ đầu năm; bộ đệm dự phòng giảm còn 1,61% dư nợ gộp; chi phí vốn tăng lên 3,29%; LDR 101,24%; room ngoại đã sử dụng 82,3%.
Vấn đề chưa có lời giải: chi phí dự phòng tăng 78,3% trong khi cơ cấu nợ chuyển dịch theo hướng đòi hỏi trích lập thấp hơn.
Bài viết thuộc loạt phân tích ngành ngân hàng sau kết quả kinh doanh quý 2/2026, khảo sát 27 ngân hàng niêm yết. Nội dung mang tính chất phân tích thông tin, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán.
Đánh giá tổng quan CTG