MSB quý 2/2026: NIM giảm 29 điểm cơ bản sau tám quý ổn định, lãi dự thu lên mức cao nhất 5 năm
MSB là ngân hàng duy nhất trong nhóm khảo sát có biên lãi thuần giảm mạnh trong quý 2/2026, mất 29 điểm cơ bản xuống 3,02% sau tám quý liên tiếp duy trì quanh mức 3,3%.
| Chỉ tiêu | Q2/2026 | svck | 6T/2026 | svck |
|---|---|---|---|---|
| Thu nhập lãi thuần | 3.001 tỷ | +16% | 6.199 tỷ | +22% |
| Thu nhập ngoài lãi | 394 tỷ | −59% | 846 tỷ | −50% |
| LN trước dự phòng | 2.070 tỷ | −7% | 4.460 tỷ | +5% |
| Chi phí dự phòng | 538 tỷ | −22% | 1.038 tỷ | −4% |
| Lợi nhuận trước thuế | 1.532 tỷ | −0,6% | 3.423 tỷ | +8% |
Nguyên nhân biên lãi giảm nằm ở phía tài sản
Đáng lưu ý là chi phí huy động của MSB không cao bất thường. Mức tăng 62 điểm cơ bản tương đương bình quân ngành và thấp hơn phần lớn ngân hàng tư nhân. Vấn đề nằm ở phía tài sản khi lợi suất chỉ tăng 34 điểm cơ bản, trong khi các ngân hàng khác đạt 71–100 điểm.
Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cũng giảm xuống 23% từ 26% quý 1 và 29% cuối năm 2025. Ban lãnh đạo giữ nguyên mục tiêu NIM năm 2026 ở mức khoảng 3,2%, cho thấy kỳ vọng phục hồi trong những quý tới.
Thu nhập ngoài lãi giảm mạnh trên toàn bộ các mảng
Thu nhập ngoài lãi giảm 59% với toàn bộ các mảng đều kém tích cực: lãi thuần dịch vụ giảm 40% chủ yếu do thu nhập phí khác sụt giảm mạnh, hoạt động kinh doanh ngoại hối và mua bán trái phiếu đều lỗ nhẹ. Lợi nhuận trước thuế giữ được mức đi ngang nhờ chi phí dự phòng giảm 22% và chi phí hoạt động gần như không đổi.
Chất lượng tài sản cho tín hiệu trái chiều
Ở chiều tích cực, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống 2,5% từ 2,7% và nợ nhóm 2 ổn định ở 1,3%. Tỷ lệ nợ xấu mới hình thành ở mức 1,3%, tương đương bình quân hai năm qua.
Nhưng tỷ lệ lãi dự thu trên dư nợ nhóm 1 tiếp tục tăng lên 5,6%, mức cao nhất trong 5 năm. HSC đánh giá đây là rủi ro tiềm ẩn do lãi đã được ghi nhận vào thu nhập nhưng chưa thu được tiền, và nếu khoản gốc chuyển nhóm thì phần lãi dự thu phải thoái ngược. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức 52%.
Tín dụng tăng tốt, hạn mức đã dùng hết
Tín dụng tăng 11,4% từ đầu năm, trong đó ngân hàng mẹ tăng 10,4% và đã sử dụng hết hạn mức được NHNN cấp ban đầu. Cho vay bán lẻ tăng 16,7% chủ yếu nhờ cho vay mua nhà tăng 17,5%, cho vay doanh nghiệp tăng 9,1% dẫn dắt bởi bất động sản tăng 12,8% và xây dựng tăng 18,1%. LDR điều chỉnh tăng lên 98% từ 94% quý 1 và 92% cuối năm 2025.
Định giá và quan điểm HSC
Ban lãnh đạo vẫn kỳ vọng ghi nhận một khoản lãi bất thường đáng kể trong năm, ước tính đóng góp 1–2,5 nghìn tỷ đồng và đưa lợi nhuận trước thuế năm 2026 lên 8,5–10 nghìn tỷ đồng. HSC thận trọng hơn khi giả định 1,2 nghìn tỷ đồng cho năm 2026 và 500 tỷ đồng cho năm 2027.
HSC duy trì khuyến nghị Nắm giữ với P/B dự phóng 2026 là 1,01 lần, thấp hơn bình quân nhóm 22% nhưng ROAE cũng thấp hơn ở mức 14,6% so với 17,1%. Dự phóng nợ xấu 2,85%, bao phủ nợ xấu 45,6%, CAR 11,9%.
Điểm mạnh: P/B 1,01 lần thấp hơn bình quân nhóm 22%; chi phí vốn 3,72% thuộc nhóm tốt; tín dụng tăng 11,4% từ đầu năm; nợ xấu và nợ nhóm 2 đang cải thiện; khoản lãi bất thường 1–2,5 nghìn tỷ đồng có khả năng ghi nhận trong năm.
Điểm hạn chế: NIM giảm dưới mức 3,3% sau tám quý; lợi suất tài sản định giá lại chậm nhất nhóm; thu nhập ngoài lãi giảm 59%; lãi dự thu 5,6% cao nhất 5 năm; bao phủ nợ xấu 52%; tiền gửi không kỳ hạn giảm còn 23%.
Bài viết thuộc loạt phân tích ngành ngân hàng sau kết quả kinh doanh quý 2/2026, khảo sát 27 ngân hàng niêm yết. Nội dung mang tính chất phân tích thông tin, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán.
Đánh giá tổng quan MSB