Ngành ngân hàng quý 2/2026: Lợi nhuận tăng 24,1% nhưng chỉ 4 trong 14 ngân hàng có bộ đệm dự phòng vượt nợ xấu
Kết quả kinh doanh quý 2/2026 của 27 ngân hàng niêm yết ghi nhận thu nhập lãi thuần tăng 17,6% và lợi nhuận trước thuế tăng 24,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên con số lợi nhuận này chưa phản ánh đúng hiệu quả vận hành của ngành.
Lợi nhuận tăng 24,1% nhưng phần lớn không đến từ hoạt động cốt lõi
| Chỉ tiêu | Quý 2/2026 svck | 6 tháng 2026 svck |
|---|---|---|
| Thu nhập lãi thuần | 139.892 → 164.470 tỷ (+17,6%) | 269.070 → 315.057 tỷ (+17,1%) |
| LN trước dự phòng | 126.375 → 154.364 tỷ (+22,1%) | — |
| Chi phí dự phòng | 37.034 → 43.452 tỷ (+17,3%) | — |
| Lợi nhuận trước thuế | 89.341 → 110.912 tỷ (+24,1%) | 171.873 → 205.169 tỷ (+19,4%) |
Điểm cần lưu ý là lợi nhuận trước thuế tăng 24,1%, nhanh hơn thu nhập lãi thuần 6,5 điểm phần trăm. Ngành ngân hàng có cơ cấu chi phí chủ yếu gồm nhân sự và trích lập dự phòng, không có chi phí cố định lớn tạo hiệu ứng đòn bẩy như doanh nghiệp sản xuất. Trong điều kiện bình thường, lợi nhuận không thể tăng nhanh hơn doanh thu cốt lõi ở mức chênh lệch như vậy.
Xét trên toàn ngành, tỷ lệ lợi nhuận đem trích chỉ giảm nhẹ từ 29,3% xuống 28,1%, tức không có hiện tượng đồng loạt nới lỏng trích lập. Chênh lệch bắt nguồn từ mức độ phân tán rất lớn giữa các ngân hàng, trong đó nhóm trích lập nhẹ lại là nhóm có quy mô lợi nhuận lớn nhất.
Vietcombank trích lập 2,8% lợi nhuận vận hành, trong khi Sacombank trích 71,5%. Mức chênh lệch hơn 25 lần trong cùng một quý cho thấy trích lập là biến số có ảnh hưởng lớn nhất tới lợi nhuận báo cáo, lớn hơn cả biên lãi thuần. Một ngân hàng có thể công bố lợi nhuận tăng 40% mà không cải thiện hiệu quả vận hành, chỉ bằng cách hạ mức trích lập.
Hai khoản thu nhập bất thường trong quý
- Vietcombank ghi nhận khoảng 3.000 tỷ đồng từ đánh giá lại và hợp nhất Vietcombank Bonday Bến Thành, đơn vị sở hữu tòa nhà Vietcombank Tower tại TP.HCM. Số liệu kế toán phù hợp với nhận định này: tài sản cố định tăng khoảng 10.000 tỷ đồng trong quý và thu nhập khác tăng 252% so với cùng kỳ.
- Sacombank và LPBank cùng ghi nhận lãi thuần dịch vụ tăng đột biến, lần lượt 248% và 125% so với cùng kỳ, đều là mức cao nhất trong nhiều năm. Cả hai ngân hàng chưa thuyết minh chi tiết cơ cấu khoản mục này.
Loại trừ khoản 3.000 tỷ đồng của Vietcombank, lợi nhuận trước thuế toàn ngành quý 2 tăng khoảng 20,7% thay vì 24,1%.
Thanh khoản hệ thống: căng thẳng trong quý 1, cân đối trở lại từ quý 2
Quý 1/2026 ghi nhận mất cân đối rõ rệt. Cho vay tăng thêm 462 nghìn tỷ đồng trong khi tiền gửi khách hàng chỉ tăng 46,7 nghìn tỷ đồng, chênh lệch 223,6 nghìn tỷ đồng. Phần thiếu hụt được bù đắp bằng phát hành giấy tờ có giá, chiếm 80,4% nguồn vốn tăng thêm trong quý.
Sang quý 2, tình hình đảo chiều. Nguồn vốn tăng thêm 678,8 nghìn tỷ đồng, cao hơn mức tăng của cho vay. Riêng tiền gửi khách hàng đóng góp 554,5 nghìn tỷ đồng, gấp gần 12 lần quý trước. Tỷ trọng giấy tờ có giá trong nguồn vốn tăng thêm giảm từ 80,4% xuống 18,3%.
Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm phản ánh sát diễn biến trên. Từ mức khoảng 13%/năm cuối tháng 6/2026, lãi suất giảm về 6–6,5% đầu tháng 7, tiếp tục xuống 2,5%, rồi 1%, và đạt 0,75% trong phiên 30/7 — mức thấp nhất kể từ tháng 3/2024. Đến phiên 3/8, lãi suất bật lên 6,3%.
Tỷ lệ dư nợ trên huy động (LDR) tăng 1,80 điểm phần trăm
LDR được tính bằng cho vay khách hàng ròng chia cho tổng tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá phát hành. Cách tính này khác với LDR quy định tại Thông tư 22/2019, phục vụ đánh giá xu hướng chứ không dùng để xét tuân thủ.
| Kỳ | Rổ 25 NH | Rổ 26 NH có CTG | Biến động |
|---|---|---|---|
| Quý 4/2025 | 95,57% | 96,10% | — |
| Quý 1/2026 | 97,40% | 97,89% | +1,79 điểm % |
| Quý 2/2026 | 97,45% | 97,90% | +0,01 điểm % |
Toàn bộ mức tăng của nửa đầu năm tập trung ở quý 1, trong khi quý 2 gần như đi ngang. Do LDR là chỉ tiêu số dư chứ không phải chỉ tiêu dòng, việc cân đối trở lại trong quý 2 chỉ ngăn chỉ số xấu thêm chứ chưa đưa về mức cũ.
| Mã | Q4/2025 | Q1/2026 | Q2/2026 | Q2 − Q4 |
|---|---|---|---|---|
| VPB | 126,0% | 124,3% | 126,4% | +0,4 |
| VIB | 114,4% | 108,6% | 110,3% | −4,1 |
| CTG | 99,5% | 101,0% | 101,2% | +1,7 |
| MBB | 96,6% | 99,2% | 101,1% | +4,5 |
| LPB | 96,3% | 97,1% | 98,1% | +1,8 |
| VCB | 97,0% | 101,0% | 97,7% | +0,7 |
| TPB | 89,4% | 95,5% | 97,5% | +8,0 |
| MSB | 89,4% | 93,0% | 97,0% | +7,5 |
| SHB | 96,6% | 94,4% | 97,0% | +0,4 |
| BID | 95,5% | 97,9% | 96,2% | +0,8 |
| TCB | 90,8% | 96,1% | 95,6% | +4,8 |
| ACB | 94,5% | 96,7% | 95,1% | +0,6 |
| HDB | 83,2% | 81,8% | 83,2% | −0,0 |
Trong quý 2, nhóm ngân hàng quy mô lớn và nhóm quy mô nhỏ diễn biến trái chiều. Vietcombank giảm LDR từ 101,0% xuống 97,7%, BIDV từ 97,9% xuống 96,2%, Techcombank từ 96,1% xuống 95,6%. Ngược lại, nhóm quy mô nhỏ đẩy mạnh tín dụng. VietinBank và MB là hai trường hợp ngoại lệ trong nhóm lớn khi cùng vượt mức 101%.
Một yếu tố cần lưu ý cho nửa cuối năm là nhiều ngân hàng đã sử dụng gần hết hạn mức tín dụng được cấp ngay trong quý 2. MSB đã dùng hết hạn mức, LPBank sử dụng gần hết mức khoảng 11%, Techcombank tiệm cận mức 12% nếu loại trừ phần cho vay hạ tầng được miễn trừ.
Chất lượng tài sản là yếu tố phân hóa mạnh nhất
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) được tính bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng chia cho tổng nợ xấu, cho biết ngân hàng đã trích lập đủ cho toàn bộ nợ xấu hiện có hay chưa. Tỷ lệ trên 100% nghĩa là đã trích vượt, phần vượt trở thành nguồn dự phòng cho nợ xấu chưa phát sinh và có thể hoàn nhập vào lợi nhuận khi chu kỳ tín dụng cải thiện. Tỷ lệ dưới 100% nghĩa là phần thiếu tương ứng với khoản lỗ đã phát sinh nhưng chưa được ghi nhận, và sẽ phải trích lập trong các kỳ tiếp theo.
Trong 14 ngân hàng khảo sát, chỉ bốn ngân hàng duy trì được tỷ lệ bao phủ trên 100%: Vietcombank 259%, VietinBank 167%, Techcombank 125,6% và ACB 114%. Mười ngân hàng còn lại đều ở dưới ngưỡng này.
Ba trường hợp dễ đọc sai tỷ lệ bao phủ
- Tỷ lệ bao phủ tăng không đồng nghĩa với việc dự phòng dày thêm. Khi xử lý rủi ro, cả quỹ dự phòng và nợ xấu cùng giảm một lượng bằng nhau. Nếu tỷ lệ đang trên 100%, phép trừ này tự động làm tỷ lệ tăng lên. Ví dụ quỹ 159 trên nợ xấu 100 cho tỷ lệ 159%; sau khi xử lý 30 thì còn quỹ 129 trên nợ xấu 70, tương ứng 184%, dù ngân hàng không trích thêm đồng nào.
- Tỷ lệ bao phủ cao không đồng nghĩa với chất lượng tài sản tốt. Cần xem xét đồng thời với tỷ lệ nợ xấu. Vietcombank có tỷ lệ bao phủ 259% trên nền nợ xấu 0,61%, tức vừa ít nợ xấu vừa dự phòng đầy đủ. Sacombank cũng nâng được tỷ lệ bao phủ từ 53% lên 57% trong quý 2, nhưng bằng cách trích 5.095 tỷ đồng trên nền nợ xấu 7,54%.
- Tỷ lệ bao phủ chỉ phản ánh trạng thái tại một thời điểm. Ngân hàng có tỷ lệ 150% nhưng nợ xấu mới hình thành đang tăng nhanh sẽ rủi ro hơn ngân hàng có tỷ lệ 100% với nợ xấu ổn định.
Xếp hạng toàn ngành theo từng chỉ tiêu
Quy mô lợi nhuận quý 2/2026
| Hạng | Ngân hàng | LNTT (tỷ) | LN trước DP (tỷ) | svck |
|---|---|---|---|---|
| 1 | VCB | 17.420 | 17.922 | +57,9% |
| 2 | CTG | 14.729 | 20.029 | +21,8% |
| 3 | VPB | 10.959 | 18.870 | +76,3% |
| 4 | MBB | 10.560 | 14.789 | +40,7% |
| 5 | BID | 10.333 | 16.153 | +19,8% |
| 6 | TCB | 9.670 | 10.322 | +22,4% |
| 7 | HDB | 7.095 | 9.723 | +50,5% |
| 8 | ACB | 5.367 | 6.427 | −11,9% |
| 9 | SHB | 4.436 | 8.261 | −2,3% |
| 10 | LPB | 3.147 | 3.924 | +5,3% |
| 11 | TPB | 2.377 | 3.152 | +16,7% |
| 12 | STB | 2.030 | 7.165 | −44,5% |
| 13 | MSB | 1.532 | 2.070 | −0,6% |
Cột lợi nhuận trước dự phòng cho thấy thứ hạng khác biệt so với lợi nhuận trước thuế. VietinBank dẫn đầu ngành với 20.029 tỷ đồng, cao hơn Vietcombank 11,8%, trong khi lợi nhuận trước thuế lại thấp hơn 15,4%. Chênh lệch hoàn toàn nằm ở mức trích lập: VietinBank trích 5.300 tỷ đồng, Vietcombank trích 503 tỷ đồng. Trường hợp Sacombank tương tự khi lợi nhuận trước dự phòng 7.165 tỷ đồng cao hơn ACB, nhưng do trích 5.095 tỷ đồng nên lợi nhuận trước thuế chỉ còn 2.030 tỷ đồng.
Các chỉ tiêu vận hành
| Hạng | ROAE (TTM) | NIM (TTM) | Chi phí vốn thấp nhất | CIR thấp nhất |
|---|---|---|---|---|
| 1 | LPB 26,97% | VPB 5,31% | VCB 2,36% | SHB 22,04% |
| 2 | HDB 25,47% | HDB 4,25% | CTG 3,13% | VPB 22,44% |
| 3 | KLB 24,91% | KLB 4,09% | BID 3,42% | VAB 26,28% |
| 4 | CTG 22,36% | MBB 4,07% | TCB 3,52% | HDB 26,86% |
| 5 | MBB 21,68% | TCB 3,76% | MBB 3,57% | MBB 28,43% |
| 6 | ABB 20,59% | MSB 3,30% | MSB 3,72% | CTG 29,68% |
| 7 | NAB 19,90% | STB 3,12% | PGB 4,07% | LPB 30,27% |
| 8 | BID 18,15% | OCB 3,11% | ACB 4,08% | TCB 30,88% |
Cột chi phí vốn cho thấy khoảng cách rõ rệt nhất. Vietcombank ở mức 2,36% và VietinBank 3,13%, sau đó nhóm ngân hàng thương mại nhà nước cùng ba ngân hàng tư nhân lớn nhất nằm trong dải 3,42–3,72%, rồi chênh lệch đáng kể so với phần còn lại của ngành từ 4,07% trở lên. Đây là lợi thế nền tảng, hình thành từ cơ cấu khách hàng và mạng lưới chứ không phải kết quả của chiến lược ngắn hạn.
Thu nhập phí là điểm hạn chế chung của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước. Vietcombank chỉ đạt 4,3% tổng thu nhập hoạt động, VietinBank 7,1% và BIDV 7,4%, trong khi TPBank (23,25%), SHB (20,47%), VIB (20,41%) và Techcombank (20,20%) đều trên 20%. Cần thận trọng khi đọc chỉ tiêu này do một phần thu nhập phí cao tại Sacombank, LPBank và VIB trong quý 2 đến từ khoản không lặp lại.
Xét mức tăng lợi nhuận trước thuế, 7 trong 27 ngân hàng có kết quả quý 2 thấp hơn cùng kỳ, trong đó giảm mạnh nhất là SGB, EIB (−48,2%) và STB (−44,5%). Mức tăng 24,1% của toàn ngành do đó che khuất thực tế một phần tư số ngân hàng đang suy giảm lợi nhuận.
Ba tiêu chí lựa chọn phù hợp với bối cảnh hiện tại
Trong bối cảnh nợ xấu tăng ở phần lớn ngân hàng mà nguyên nhân gốc chưa được xác định chắc chắn, tiêu chí quan trọng nhất không phải ROAE hay P/B, mà là sức chịu đựng của ngân hàng nếu nợ xấu tiếp tục tăng.
| Tiêu chí | Cơ sở lựa chọn | Ngân hàng đáp ứng |
|---|---|---|
| Bao phủ nợ xấu trên 100% | Cho biết khoản lỗ tương lai đã được ghi nhận trước hay chưa | VCB (259%), CTG (167%), TCB (125,6%), ACB (114%) |
| Chi phí vốn dưới 3,6% | Lợi thế bền vững nhất trong ngành, không thể tạo ra bằng chiến lược ngắn hạn | VCB (2,36%), CTG (3,13%), BID (3,42%), TCB (3,52%), MBB (3,57%) |
| Tỷ trọng cho vay bất động sản thấp | Áp dụng cho nhà đầu tư có quan ngại riêng về chu kỳ bất động sản | ACB (dưới 5%), CTG (~5%), VCB (~6%) |
Chỉ hai ngân hàng đáp ứng đồng thời cả ba tiêu chí là VietinBank và Vietcombank. ACB đáp ứng tiêu chí thứ nhất và thứ ba nhưng chi phí vốn 4,08% không đạt tiêu chí thứ hai. Techcombank đáp ứng tiêu chí thứ nhất và thứ hai nhưng tỷ trọng cho vay bất động sản 25,4% là cao nhất nhóm.
Các chỉ tiêu cần theo dõi trong quý 3/2026
- Nợ nhóm 2 toàn ngành — xác định nguyên nhân nợ xấu đến từ lãi suất hay bất động sản.
- Bộ đệm dự phòng của VietinBank — có tiếp tục giảm dưới 1,61% dư nợ gộp không.
- Bao phủ nợ xấu của BIDV — vượt trên 100% hay tiếp tục giảm từ mức 76%.
- Trích lập của Techcombank và Vietcombank — hai ngân hàng đã ở mức trích rất thấp, nếu phải trích trở lại lợi nhuận sẽ giảm ngay.
- Hạn mức tín dụng được cấp bổ sung — quyết định tốc độ tăng trưởng tín dụng nửa cuối năm.
- Cơ cấu nợ trái phiếu bất động sản — tỷ lệ chậm thanh toán trong 60.000 tỷ đồng đáo hạn nửa cuối năm.
Số liệu trong bài được tổng hợp từ báo cáo tài chính quý 2/2026 của 27 ngân hàng niêm yết. Phạm vi khảo sát không bao gồm Agribank và PVcomBank. Bài viết mang tính chất phân tích thông tin, không phải khuyến nghị mua bán chứng khoán.
Đánh giá tổng quan CTG